MENU NGANG

Nhập khẩu là gì – và những vấn đề cơ bản?

Bên cạnh xuất khẩu thì nhập khẩu là một trong những hoạt động thương mại vô cùng quan trọng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, khái niệm nhập khẩu là gì thì không hẳn ai cũng hiểu rõ thực chất.

Hãy tham khảo bài viết dưới đây để hiểu rõ hơn về nhập khẩu nhé!

Về mặt lý thuyết thì xuất nhập khẩu được hiểu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là sự trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ là môi giới và thường tính trong một khoảng thời gian nhất định. Nhập khẩu không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà nó là hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài.

Nhập khẩu của mỗi quốc gia còn phụ thuộc vào thu nhập của người cư trú trong nước và tỷ giá hối đoái tại đây. Nếu thu nhập bình quân của người dân nước đó càng cao thì nhu cầu sử dụng hàng nhập khẩu cũng theo đó mà tăng hơn. Ngược lại, nếu tỷ giá hối đoái tăng, thì giá hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ trở nên cao hơn, điều này có thể tác động đến nhập khẩu và khiến nhu cầu nhập khẩu giảm.

Nhập khẩu có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia, đảm bảo sự phát triển ổn định của những ngành kinh tế mũi nhọn mỗi nước đồng thời khai thác triệt để lợi thế so sánh của quốc gia, góp phần thực hiện chuyên môn hóa cao trong lao đồng và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.

Luật Thương mại 2005 Điều 28 khoản 1 định nghĩa như sau:

Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.

Các hình thức nhập khẩu hàng hóa

Nhập khẩu trực tiếp

Nhập khẩu là gì

Nhập khẩu là gì – và những vấn đề cơ bản?

Đối với hình thức này thì người mua và người bán hàng hóa trực tiếp giao dịch với nhau, quá trình mua và bán không hề ràng buộc lẫn nhau. Bên mua có thể mua mà không bán và ngược lại.

Nhập khẩu trực tiếp được tiến hành khá đơn giản. Trong đó, bên nhập khẩu muốn ký kết được hợp đồng kinh doanh nhập khẩu thì phải nghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác phù hợp, ký kết và thực hiện hợp đồng, tự bỏ vốn, chịu mọi rủi ro và chi phí trong giao dịch…

Nhập khẩu ủy thác

Nhập khẩu ủy thác được hiểu là hoạt động dịch vụ thương mại theo đó chủ hàng thuê một đơn vị trung gian thay mặt và đứng tên nhập khẩu hàng hóa bằng hợp đồng ủy thác.

Nói một cách dễ hiểu hơn, các doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng và có nhu cầu nhập khẩu một loại hàng hóa nào đó, tuy nhiên lại không được phép nhập khẩu trực tiếp, hoặc gặp khó khăn trong quá trình kiếm, giao dịch với đối tác nước ngoài thì sẽ thuê những các doanh nghiệp có chức năng thương mại quốc tế tiến hành nhập khẩu cho mình.

Trách nhiệm của bên nhận ủy thác là phải cung cấp thông tin về thị trường, giá cả, khách hàng, những điều kiện có liên quan đến đơn hàng được ủy thác, ký kết hợp đồng và thực hiện các thủ tục liên quan đến nhập khẩu.

Với hình thức này, doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ nhập khẩu ủy thác không phải bỏ vốn, không cần xin hạn ngạch cũng như không phải tìm kiếm đối tác, giá cả… Đổi lại bên ủy thác sẽ trả phí dịch vụ cho bên nhận ủy thác nhập khẩu.

Buôn bán đối lưu có thể được coi là một phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế, được sử dụng chủ yếu trong các giao dịch mua bán với chính phủ những nước đang phát triển. Hàng hóa và dịch vụ được đổi lấy hàng hóa và dịch vụ khác có giá trị tương đương. Ví dụ: Caterpillar xuất khẩu máy xúc sang Venezuela, bù lại, chính phủ Venezuala sẽ trả cho Caterpillar 350.000 tấn quặng sắt.

Trong phương thức này, chỉ với 1 hợp đồng doanh nghiệp có thể tiến hành đồng thời cả hai hoạt động trọng điểm là xuất khẩu và nhập khẩu. Lượng hàng hóa giao đi và hàng nhận về có giá trị tương đương nhau. Do đó, doanh nghiêp xuất khẩu được tính vào cả kim ngạch xuất khẩu và doanh thu trên hàng hóa nhập khẩu.

Tạm nhập tái xuất

Tạm nhập tái xuất là hình thức mà thương nhân Việt Nam nhập khẩu tạm thời hàng hóa vào Việt Nam, nhưng sau đó lại xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam sang một nước khác.

Hình thức này là tiến hành nhập khẩu hàng hóa nhưng không để tiêu thụ trong nước mà để xuất khẩu sang một nước thứ ba nhằm thu lợi nhuận. Giao dịch này bao gồm cả nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu lại lượng ngoại tệ lớn hơn số vốn ban đầu đã bỏ ra.

Khi tiến hành tạm nhập tái xuất, doanh nghiệp cần tiến hành đồng thời hai hợp đồng riêng biệt, gồm: hợp đồng mua hàng ký với thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng bán hàng ký với thương nhân nước nhập khẩu.

Lưu ý, có trường hợp gần giống như tạm nhập tái xuất, nhưng hàng hóa được chuyển thẳng từ nước bán hàng sang nước mua hàng, mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam. Đó gọi là hình thức chuyển khẩu.

Nhập khẩu gia công

Là hình thức mà bên nhận gia công của Việt Nam nhập khẩu nguyên vật liệu từ người thuê gia công ở nước ngoài, theo hợp đồng gia công đã ký kết. Chẳng hạn như doanh nghiệp dệt may, giầy da của Việt Nam nhập nguyên phụ liệu từ Đài Loan để sản xuất hàng gia công cho đối tác Đài Loan.

Trên đây là một số hình thức nhập khẩu phổ biến mà bạn có thể gặp.

Dù áp dụng bất cứ hình thức nào, bạn cũng cần xem xét hàng hóa nhập khẩu có thuộc diện hàng bị cấm nhập hay không, hàng có giấy phép nhập khẩu chưa và có cần kiểm tra chất lượng hay không? Việc tìm hiểu này là vô cùng quan trọng, giúp doanh nghiệp tránh nhập phải những mặt hàng cấm, hoặc không đủ thời gian xin giấy phép, hạn chế rủi ro về chất lượng hàng hóa cũng như chi phí kho bãi…

Để tìm hiểu thêm mặt hàng nào bị cấm, hay phải xin giấy phép, bạn hãy tìm đọc Nghị định 187/2013/NĐ-CP và thông tư 04/2014/TT-BTC (lưu ý xem cả phần phụ lục nhé).

Sau khi đã xác nhận kỹ lưỡng về hàng hóa nhập khẩu, bạn cần phải thực hiện hàng loạt những thủ tục khác như:

  • ký kết hợp đồng ngoại thương;
  • vận chuyển hàng hóa quốc tế;
  • làm thủ tục hải quan cho hàng nhập khẩu ;
  • chuyển hàng về kho riêng…

Đó chỉ là những bước cơ bản nhất khi nhập khẩu hàng hóa. Với mỗi loại hình nhập khẩu có thể cần có thêm những thủ tục riêng, và sẽ được đề cập trong những bài viết khác.

Trên đây là một số kiến thức cơ bản để trả lời câu hỏi nhập khẩu là gì và kinh nghiệm khi nhập khẩu hàng hóa mà những người mới làm về xuất nhập khẩu cần quan tâm và tìm hiểu kỹ.

Quy trình làm hàng xuất - đường biển

Quy trình làm hàng xuất trong bài viết này gồm các bước mà chủ hàng cần làm để chuyển lô hàng xuất khẩu cho đối tác nước ngoài.

Trường hợp chủ hàng muốn thuê công ty dịch vụ thì có thể bỏ qua một số bước nghiệp vụ đã thuê. Tất nhiên, họ vẫn có thể tìm hiểu để phối hợp cho tốt trong quá trình làm thủ tục. Còn nếu bạn là nhân viên của công ty dịch vụ giao nhận thì cũng có thể đọc, tìm hiểu để biết những nghiệp vụ mà mình phải thực hiện để phục vụ khách hàng.

Dưới đây, tôi sẽ nêu các bước công việc chính của Quy trình làm hàng xuất để có thể xuất khẩu lô hàng bằng container đường biển, cho hàng nguyên container (FCL). Nếu hàng đi bằng máy bay, thì bạn đọc bài Quy trình xuất khẩu hàng hóa bằng đường hàng không.

Bước 1 - Đàm phán ký kết hợp đồng mua bán

Hai bên thương thảo để đi đến thống nhất nội dung hợp đồng ngoại thương, trong đó có những điều khoản về hàng hóa, điều kiện giao hàng (Incoterms), trách nhiệm của mỗi bên…

Dựa vào quy định trong hợp đồng đã ký kết, người bán Việt Nam biết được mình có trách nhiệm như thế nào trong các bước tiếp theo.

Bước 2 - Xin giấy phép xuất khẩu (nếu hàng thuộc diện này)

Nếu hàng hóa thuộc diện phải xin giấy phép xuất khẩu thì phải làm bước này với cơ quan hữu quan tương ứng. Chẳng hạn, để xuất khẩu những mặt hàng như: thuốc tân dược, hạt giống, vật liệu nổ, gỗ, cổ vật... Thì phải xin giấy phép của bộ ngành quản lý.

Chi tiết hàng phải xin giấy phép xuất khẩu, tra cứu trong Nghị định 187 và các quy định liên quan khác.

Việc xin giấy phép quan trọng và mất thời gian, nên doanh nghiệp cần chuẩn bị kỹ lưỡng.

Sau khi có giấy phép, hoặc với mặt hàng không cần giấy phép xuất khẩu, bạn có thể chuyển sang bước kế tiếp.

Bước 3 - Thu xếp chỗ với hãng vận tải

Tùy theo điều kiện thương mại ký trong hợp đồng ngoại thương, mà việc thu xếp chỗ với công ty vận tải và chi phí vận quốc tế sẽ thuộc trách nhiệm của người mua hay người bán.

Ở đây tôi nêu 2 trường hợp phổ biến để bạn dễ theo dõi. Nếu muốn biết chi tiết về các điều kiện thương mại, ban đọc thêm bài viết

3.1. Nếu xuất CIF

Nếu công ty bạn xuất khẩu theo điều kiện CIF hay CNF (hay điều kiện nhóm C hay D nói chung), thì sẽ chịu trách nhiệm thu xếp và chịu chi phí vận chuyển đường biển. Nghĩa là bạn phải chủ động liên hệ với công ty vận chuyển: thường là hãng tàu (Shipping lines) hoặc công ty giao nhận vận chuyển (Freight forwarder), để ký thỏa thuận lưu khoang (Booking note) cho lô hàng xuất khẩu.

3.2. Nếu xuất FOB

3.2. Nếu xuất FOB

Với điều kiện FOB, bạn chỉ cần làm xong thủ tục hải quan xuất khẩu và chuyển hàng về cảng. Phía người mua hàng nước ngoài sẽ thu xếp chặng vận chuyển quốc tế. Nói cách khác, người mua sẽ thu xếp Booking Note với hãng tàu.

Để phối hợp, người mua sẽ thông báo cho bạn thông tin người vận chuyển đường biển (hoặc đại diện) của họ tại Việt Nam. Bên vận chuyển sẽ phối hợp, sắp xếp và thống nhất với bạn lịch trình tàu phù hợp.

Theo kế hoạch đã thỏa thuận, người vận chuyển sẽ gửi Booking để bạn làm thủ tục kéo vỏ container đóng hàng.

Bước 4 - Chuẩn bị hàng hóa, chứng từ

Sau khi có lịch trình dự kiến về ngày tàu chạy, việc của người xuất khẩu là phải khẩn trương chuẩn bị hàng hóa sẵn sàng. Đồng thời cũng phải sắp xếp chuẩn bị những chứng từ cần thiết liên quan đến lô hàng xuất khẩu.

Bước 5 - Kéo vỏ container rỗng, đóng hàng, chuyển về cảng

Bạn làm các bước công việc cụ thể dưới đây, hoặc cũng có thể thuê công ty dịch vụ logistics làm:

  • Dùng Booking của hãng tàu để lấy vỏ container rỗng. Tùy theo hãng tàu mà có sự khác nhau về cách làm. Có hãng yêu cầu phải đem Booking lên văn phòng của họ để đổi ra lệnh cấp vỏ. Một số hãng cho phép chủ hàng in Booking ra rồi xuống thẳng bãi lấy vỏ (không cần đổi ra lệnh cấp vỏ). Hãng khác thì phải thêm bước gửi file Booking cho hãng tàu xác nhận lệnh cấp vỏ qua email, sau đó mới tới bãi chỉ định để nhận vỏ container.
  • Kéo vỏ container từ bãi cấp rỗng về kho để đóng hàng
  • Đóng hàng và niêm phong kẹp chì (seal). Với hàng phải làm kiểm tra chuyên ngành tại cảng (chẳng hạn kiểm dịch), thì nên kẹp trước chì tạm để hạ container về cảng. Khi lấy mẫu kiểm tra xong, lúc đó mới kẹp chì hãng tàu. Như vậy sẽ tránh phải xin lại chì mới (mất phí).
  • Hạ hàng về cảng, hoặc bãi theo chỉ định của hãng tàu. Lưu ý chuẩn bị trước và nộp cho cảng phiếu xác nhận khối lượng (VGM). Hàng cần hạ trước giờ cắt máng (closing time) nếu không sẽ rất dễ bị rớt tàu (không được xếp lên tàu mặc dù đã xong thủ tục)

Nếu hàng phải kiểm tra chuyên ngành (kiểm dịch, hun trùng…) thì cũng sẽ thực hiện lấy mẫu trong bước này.

Trường hợp bạn thấy nhiều việc lắt nhắt, và muốn thuê công ty dịch vụ vận chuyển thủ tục, thì gửi yêu cầu báo giá trong link dưới, công ty tôi sẽ phục vụ hết mình:

Bước 6 - Làm thủ tục hải quan xuất khẩu

Chuẩn bị bộ chứng từ để làm thủ tục xuất khẩu, bao gồm:

  • Hợp đồng ngoại thương
  • Hóa đơn thương mại
  • Phiếu đóng gói
  • Phiếu hạ hàng (do cảng cấp khi hàng hạ về cảng ở bước 5 nêu trên)
  • Giấy giới thiệu

Chi tiết các bước thủ tục và hồ sơ hải quan, bạn có thể đọc trong bài viết về cách làm thủ tục hải quan.

Sau khi thông quan, bạn nộp tờ khai thông quan cho hãng tàu để họ ký thực xuất với hải quan giám sát. Sau khi xuất tàu họ sẽ hoàn trả tờ khai thông quan có xác nhận đã thực xuất.

Với điều kiện FOB, thì đến bước thông quan tờ khai & hàng xếp lên tàu là người bán cơ bản đã hoàn thành nghĩa vụ của mình. Trường hợp công ty bạn xuất khẩu theo điều kiện C, thì cần làm tiếp những bước dưới đây.

Gửi SI cho hãng tàu, xác nhận nội dung B/L, nhận B/L gốc (nếu có)

Sau khi hàng đã hạ về cảng và xong thủ tục hải quan, bạn gửi chi tiết làm Bill, hay Hướng dẫn gửi hàng (SI - Shipping Instruction) cho hãng tàu trước thời hạn Cut-off Time. Nên yêu cầu họ xác nhận, để đảm bảo chắc chắn họ đã nhận được trước thời hạn.

Dựa trên thông tin SI, bên vận chuyển sẽ gửi bản nháp vận đơn (Draft Bill of Lading). Bạn nên kiểm tra kỹ, có gì cần bổ sung chỉnh sửa thì phối hợp với hãng tàu thực hiện sớm.

Ghi chú: nếu bên vận chuyển là hãng tàu, thì họ sẽ gửi vận đơn chủ (Master Bill of Lading), còn nếu bên vận chuyển là công ty giao nhận vận chuyển thì họ sẽ gửi vận đơn nhà (House Bill of Lading). Thực ra, 2 loại vận đơn này có nội dung cơ bản như nhau, chỉ khác nhau ở đơn vị cấp vận đơn mà thôi. >> Tìm hiểu thêm về Phân biệt MBL và HBL

Khi tàu chạy, bên vận chuyển sẽ gửi cho bạn Vận đơn gốc (Original B/L). Nhiều trường hợp, chủ hàng yêu cầu vận đơn giao hàng bằng điện (Telex B/L / Surrender B/L), thì họ thường phải nộp thêm 1 khoản phí, gọi là phí Telex Fee (khoảng 30-50usd). Khi đó sẽ chỉ có file Telex Bill gửi qua email, mà không phát hành bản gốc, và do đó cũng không cần xuất trình B/L gốc tại cảng dỡ hàng (nhờ vậy sẽ nhanh chóng, thuận tiện hơn).

Bước 8 - Các bước công việc khác của Quy trình làm hàng xuất: mua bảo hiểm, làm CO…

Khi đã có vận đơn, thì bạn nên gửi sớm file mềm bộ chứng từ để thông báo cho người mua về việc hàng đã xếp lên tàu.

Đồng thời, bạn tiến hành làm nốt thủ tục để có được những chứng từ khác theo như quy định trong hợp đồng, chẳng hạn như:

  • Chứng thư bảo hiểm hàng hóa đường biển (Marine Insurance Policy)
  • Chứng nhận xuất xứ (CO)
  • Chứng thư kiểm dịch thực vật (Phytosanitary) hay kiểm dịch động vật.

Để đảm bảo tính chính xác, bạn nên gửi bản nháp và file mềm bản chính thức cho người mua, để họ kiểm tra xác nhận. Nếu có nội dung nào cần bổ sung chỉnh sửa, thì làm sớm, sẽ tốt hơn muộn.

Bước 9 - Gửi chứng từ cho người mua hàng nước ngoài

Khi đã có bộ chứng từ, bạn gửi cho người bán bộ chứng từ gốc, theo số lượng đã thỏa thuận trong hợp đồng mua bán. Đồng thời cũng nên gửi cho họ file scan qua email để họ chuẩn bị trước những bước cần thiết cho quá trình nhập khẩu.

Như vậy là kết thúc quy trình làm hàng xuất khẩu, về mặt chuyển giao hàng hóa. Song song với quá trình này, người xuất khẩu cũng lưu ý vấn đề thanh toán của khách hàng, cũng theo quy định của hợp đồng.

Như vậy trong bài viết này, tôi đã nêu các bước của quy trình làm hàng xuất, đứng theo góc độ chủ hàng.

Trường hợp bạn là công ty dịch vụ, thì cũng có thể hiểu và tùy biến cho phù hợp với dịch vụ mà mình cung cấp. Tất nhiên sẽ có một số nghiệp vụ khác đi, nên nếu có thời gian, tôi sẽ viết riêng bài về quy trình hàng làm xuất cho forwarder.

Hàng loạt doanh nghiệp bị điều tra về gian lận thương mại

Lợi dụng việc tạo thuận lợi xuất nhập khẩu (XNK) hàng hóa khi Việt Nam ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA), tội phạm gian lận xuất xứ hàng hóa ngày càng nhiều. Theo tiết lộ của Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan), ít nhất 6 doanh nghiệp có kim ngạch XNK tăng đột biến 6 tháng đầu năm 2019 đang bị điều tra.

Vụ bắt giữ kho chứa 280 kiện hàng nghi giả mạo xuất xứ Thái Lan tại Lạng Sơn ngày 7/7

Vụ bắt giữ kho chứa 280 kiện hàng nghi giả mạo xuất xứ Thái Lan tại Lạng Sơn ngày 7/7

Tại Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm ngày 15/7 của Tổng cục Hải quan, ông Nguyễn Phi Hùng, Cục trưởng Cục<del ice-cts"="" data-changedata="" data-cid="2" data-last-change-time="1563189903077" data-time="1563189903077" data-userid="" data-username="" style="box-sizing: border-box;"> Điều tra chống buôn lậu, vấn nạn lợi dụng xuất xứ của Việt Nam để xuất hàng đi các nước, lợi dụng xuất xứ của các nước nhập vào Việt Nam để hưởng ưu đãi đang ngày càng nhức nhối. Việc chống lợi dụng, kiểm soát loại hình tội phạm này là nhiệm vụ chung của Hải quan tất cả các nước, không riêng Việt Nam.

Đáng chú ý, theo ông Hùng, Cục Điều tra chống buôn lậu đã tập trung vào 6 doanh nghiệp (DN) lớn có biểu hiện nghi vấn. Những DN này có kim ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu từ Trung Quốc để xuất đi Mỹ và một số nước tăng đột biến trong năm 2018 và nửa đầu năm 2019. Trong đó, nổi lên là các mặt hàng gỗ ván ép với kim ngạch có DN lên tới 200 tỷ đồng trong năm 2018.

Bước đầu, cơ quan điều tra xác định các DN này sử dụng hợp đồng mua bán ký khống, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nhằm chứng minh nguyên liệu gỗ được sản xuất tại Việt Nam; sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng mua keo, bạch đàn, bột mì cho nhiều tờ khai quay vòng hóa đơn để xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ (C/O). Tổng lượng keo, bột mì trong tờ khai vượt quá số lượng trong hóa đơn giá trị gia tăng.

“Chúng tôi đã xác minh, làm việc với chính quyền một số địa phương, buộc họ thừa nhận đã ký khống hợp đồng mua bán keo với các DN để các DN xin C/O xuất gỗ đi nước ngoài. Đa phần các hộ dân khẳng định chưa được cấp đất trồng có số lô, số thửa như ghi trong hợp đồng; chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để trồng rừng, khai thác lâm sản. Ngoài ra, một số bản kê lâm sản, bản kê khai thác không ghi ngày tháng, không hợp lệ nhưng cơ quan cấp phép vẫn làm thủ tục cho họ cấp C/O”, ông Hùng cho hay.

Dẫn chứng cho thủ đoạn này, ông Hùng đưa ra Cty Hữu Nghĩa ở Lạng Sơn nhập hàng nghìn sản phẩm gia dụng từ Trung Quốc nhưng ghi sản xuất Việt Nam; Có công ty nhập khẩu khóa Việt – Tiệp là nhãn hiệu nổi tiếng của Việt Nam nhưng sản phẩm nguyên chiếc lại có nguồn gốc từ Trung Quốc; Một số sản phẩm phòng chống cháy nổ của nước ta cũng được sản xuất, nhập khẩu từ Trung Quốc. Thậm chí, có công ty nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc nhưng ghi sẵn nhãn mác hàng hóa nổi tiếng trên thế giới; Cty Trần Vượng ở TP.HCM nhập khẩu hàng tỷ đồng mặt hàng loa, âm ly mang nhãn hiệu Nonamax – sản phẩm đã được đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam nhưng trên nhãn lại ghi sản xuất tại Trung Quốc.

“Tổng cục Hải quan và cục Hải quan các địa phương sẽ điều tra bổ sung thêm để xử lý 6 DN trên về hành vi vi phạm xin cấp C/O. Đồng thời, điều tra mở rộng thêm dấu hiệu hoàn thuế giá trị gia tăng với số lượng rất lớn, trong đó có DN được hoàn thuế từ 12-34 tỷ đồng”, Cục trưởng Nguyễn Phi Hùng cho biết thêm.

Cũng theo Cục Điều tra chống buôn lậu, do các vụ việc này đều đang trong quá trình điều tra nên chưa thể tiết lộ thêm thông tin, cũng như chưa thể khẳng định có dấu hiệu tiếp tay của cơ quan chức năng.

Ông Lưu Mạnh Tưởng, Cục trưởng Cục Thuế Xuất nhập khẩu (Tổng cục Hải quan cũng cho hay, 6 tháng đầu năm 2019, toàn ngành Hải quan đã chủ trì, phối hợp, phát hiện, bắt giữ tổng 8.933 vụ việc vi phạm trong lĩnh vực hải quan, thu vào ngân sách nhà nước (NSNN) 157 tỷ đồng. Trong đó, riêng ngành Hải quan đã ban hành 20 quyết định khởi tố, chuyển cơ quan khác kiến nghị khởi tố 51 vụ việc.

TUẤN NGUYỄN

Hệ lụy từ việc trả kết quả kiểm tra chuyên ngành thủ công

Một số DN trên địa bàn Quảng Ninh phản ánh, cơ quan, tổ chức kiểm tra chuyên ngành (KTCN) chưa thực hiện tiếp nhận và cấp kết quả, giấp phép bằng phương thức điện tử thông qua Cổng Thông tin một cửa quốc gia mà thực hiện thủ công, gây chậm trễ, kéo dài thời gian làm thủ tục hải quan.

he luy tu viec tra ket qua kiem tra chuyen nganh thu cong
Danh sách hàng hóa kiểm tra chuyên ngành chưa thực hiện trên Cổng Thông tin một cửa quốc gia. Nguồn: Tổng cục Hải quan.

Trả kết quả KTCN còn thủ công

Qua tìm hiểu của phóng viên, ở Hải quan Quảng Ninh hiện có 20 cơ quan, tổ chức được chỉ định quản lý, KTCN nhưng chưa tiếp nhận và cấp kết quả KTCN, giấy phép bằng phương thức điện tử trên Cổng Thông tin một cửa quốc gia. Tình trạng này diễn ra kể từ khi triển khai Cổng Thông tin một cửa quốc gia.

Qua rà soát của Hải quan Quảng Ninh, có 25 kết quả KTCN của các cơ quan, tổ chức do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng chỉ định; 3 giấp phép nhập khẩu do các cơ quan KTCN thuộc Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp chưa thực hiện trên Cổng Thông tin một cửa quốc gia.

Theo quy định, những kết quả giám định, kết quả KTCN trả trên Cổng Thông tin một cửa quốc gia, tuy nhiên, một số bộ, ngành vẫn chưa thực hiện mà trả kết quả thủ công dẫn đến chậm trễ, kéo dài thời gian làm thủ tục hải quan, đại diện Phòng Giám sát quản lý về hải quan cho biết. Tình trạng này diễn ra chủ yếu tại cảng Cái Lân và cửa khẩu quốc tế Móng Cái, nơi có số lượng hàng hóa phải KTCN phát sinh nhiều nhất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Ví dụ như mặt hàng cột chống thủy lực sử dụng trong khai thác hầm lò thuộc Danh mục hàng hóa có khả năng gây mất an toàn kèm theo Thông tư số 33/2017/TT-BCT 28/12/2017 của Bộ Công Thương phải thực hiện kiểm tra sau thông quan. Qua websie của Bộ Công Thương (tại địa chỉ: http://www.moit.gov.vn), 3 tổ chức được chỉ định kiểm tra mặt hàng này gồm: Trung tâm Kiểm định công nghiệp I; Trung tâm an toàn mỏ thuộc Việc khoa học công nghệ mỏ-VINACOMIN; Công ty CP than Núi Béo- VINACOMIN. Tuy nhiên, các tổ chức này lại thực hiện thủ tục KTCN thủ công (do không phải cơ quan quản lý Nhà nước nên không tham gia Cơ chế một cửa quốc gia).

Tại Hội nghị xúc tiến hoạt động xuất nhập khẩu tại cửa khẩu quốc tế Móng Cái (Việt Nam)-Đông Hưng (Trung Quốc), một số DN kiến nghị các bộ, ngành liên quan có biện pháp chế tài, kiên quyết nếu như các đơn vị này không thực hiện nghiêm túc việc thực hiện trả kết quả, thông tin trên Cổng Thông tin một cửa quốc gia gây khó khăn cho DN khi vẫn phải nộp kết quả KTCN theo phương pháp thủ công cho cơ quan Hải quan. Đơn cử như Trung tâm an toàn mỏ-Viện Khoa học công nghệ mỏ; Trung tâm Kiểm định công nghiệp I… do Bộ Công Thương chỉ định kiểm tra; Chi cục Kiểm dịch động vật vùng Quảng Ninh; Chi cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng tỉnh, thành phố; Cục Quản lý chất lượng nông, lâm, thủy sản…

Đề nghị trả kết quả bằng phương thức điện tử

Để giảm thời gian, tạo thuận lợi về thủ tục hành chính cho doanh nghiệp và việc thông quan hàng hóa, Hải quan Quảng Ninh vừa có văn bản đề nghị Tổng cục Hải quan có văn bản trao đổi với các bộ, ngành chỉ đạo các cơ quan, tổ chức được chỉ định quản lý, KTCN sớm kết nối, triển khai việc thực hiện tiếp nhận và cấp kết quả KTCN, giấy phép trên Công Thông tin một cửa quốc gia (theo Quyết định số 09 ngày 25/3/2015 và Quyết định số 1245 ngày 26/9/2018 của Thủ tướng Chính phủ).

Mới đây, Tổng cục Hải quan có văn bản gửi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Cục Bảo vệ thực vật, Cục Thú y, Cục Trồng trọt); Bộ Khoa học và Công nghệ (Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng); Bộ Y tế (Cục An toàn thực phẩm) về việc quán triệt việc thực hiện tiếp nhận và cấp kết quả KTCN, giấy phép bằng phương thức điện tử.

Tổng cục Hải quan đề nghị các bộ tiến hành rà soát các thủ tục liên quan, đồng thời quán triệt các cơ quan tổ chức thực hiện thuộc Bộ mình quản lý thực hiện việc tiếp nhận và cấp kết quả KTCN, giấy phép qua Cổng Thông tin một cửa quốc gia đối với các thủ tục đã được công bố triển khai.

Lãnh đạo Chi cục Hải quan cửa khẩu Móng Cái (Cục Hải quan Quảng Ninh) cho biết, kể từ tháng 11/2018, qua thực tế triển khai, cũng như thông qua hội nghị đối thoại DN, chi cục đã ghi nhận nhiều ý kiến, đồng thời báo cáo Cục Hải quan Quảng Ninh liên quan đến một số DN phản ánh việc tiếp nhận, trả kết quả KTCN còn thủ công, gây khó khăn cho DN.

Quang Hùng

Cục Hải quan Thanh Hóa thu ngân sách tăng 176%

Ngày 16/7/2019, Cục Hải quan Thanh Hóa tổ chức hội nghị sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2019.

cuc hai quan thanh hoa thu ngan sach tang 176
Quang cảnh hội nghị. Ảnh: Phong Nhân

6 tháng đầu năm, Cục Hải quan Thanh Hóa đã cơ bản hoàn thành tốt các mục tiêu nhiệm vụ đề ra từ đầu năm trên tất cả các mặt công tác.

Tính đến 15/6/2019, Cục Hải quan Thanh Hóa đã làm thủ tục cho 4.162 lượt phương tiện xuất nhập cảnh; 17.441 lượt hành khách xuất nhập cảnh; 29.774 tờ khai, tăng 28% so với cùng kỳ.

Kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 2,7 tỷ USD, trong đó: xuất khẩu là 1,03 tỷ USD; nhập khẩu 1,7 tỷ USD. Số thu nộp NSNN tính đến 15/7/2019 là 5.591 tỷ đồng, đạt xấp xỉ 50% so với chỉ tiêu giao, đạt 276% so với cùng kỳ năm 2018. Số thu tăng so với cùng kỳ năm 2018 là do Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn đã nhập khẩu 15 chuyến dầu thô để sản xuất.

Tình hình buôn lậu, gian lận thương mại trên địa bàn quản lý không phức tạp. Tuy nhiên, tình hình buôn bán, vận chuyển các chất ma tuý trên tuyến biên giới Việt- Lào còn diễn biến phức tạp, với nhiều thủ đoạn tinh vi, do đó đòi hỏi phải tăng cường các biện pháp nghiệp vụ để đấu tranh phòng, chống ma túy qua biên giới đạt hiệu quả.

Từ đầu năm đến nay, Cục đã phối hợp cùng các lực lượng chức năng trên địa bàn bắt giữ 1 vụ buôn lậu, gian lận thương mại, 1 vụ buôn bán vận chuyển trái phép chất ma túy; Tang vật thu giữ gồm 7,6 kg pháo nổ, 1kg ma túy đá, 30gram heroin; 2,9 tấn vải. Phạt vi phạm hành chính 25 vụ với tổng số tiền 165,2 triệu đồng.

Trong công tác kiểm tra sau thông quan (KTSTQ), các chi cục trực thuộc đã tiếp tục triển khai thực hiện Đề án tăng cường năng lực KTSTQ từ năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020; theo đó đẩy mạnh hoạt động KTSTQ tại doanh nghiệp, hướng tới đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp; tập trung kiểm tra những doanh nghiệp, lô hàng có rủi ro cao về trị giá, mã số; Phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu về KTSTQ của Tổng cục Hải quan giao trong năm 2019. Trong 6 tháng qua, đơn vị đã hoàn thành kiểm tra sau thông quan 16 cuộc/16 doanh nghiệp, tổng số tiền thu nộp vào NSNN là 660 triệu đồng.

Thực hiện thanh tra chuyên ngành đối với 1 doanh nghiệp, ban hành kết luận thanh tra, ấn định thuế và xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 54,8 triệu đồng.

Bên cạnh đó, Cục Hải quan Thanh Hóa luôn chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới. Cục đã cử 67 lượt CBCC tham dự các lớp đào tạo bồi dưỡng do Tổng cục Hải quan, Trường Hải quan Việt Nam và các đơn vị liên quan tổ chức; Tổ chức cho CBCC trong Cục thi thử đánh giá năng lực CBCC năm 2019 và tổ chức thành công lớp Trung cấp lý luận chính trị tại Cục cho 75 CBCC của Cục theo học.

Tại hội nghị, Cục trưởng Cục Hải quan Thanh Hóa Vũ Văn Khánh đã thông báo nhanh tình hình công tác 6 tháng đầu năm của Tổng cục, triển khai Nghị quyết 02-NQ-BCSĐ ngày 10/6/2019 của Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính về trách nhiệm nêu gương; Quyết 1072-QĐ/BTC ngày 24/6/2019 về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu người dân, doanh nghiệp theo chỉ thị 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định 2009/QĐ-TCHQ ngày 10/7/2019 ban hành quy trình kiểm tra nội bộ trong ngành Hải quan.

6 tháng cuối năm, Cục Hải quan Thanh Hóa tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ mục tiêu đề ra từ đầu năm, khắc phục những hạn chế thiếu sót để hoàn thành nhiệm vụ chính trị; Siết chặt hơn nữa vấn đề kỷ cương, kỷ luật hành chính, tăng cường công tác quản lý của đội ngũ lãnh đạo và trách nhiệm nêu gương theo Nghị quyết 02 của Ban cán sự Đảng Bộ Tài chính, kiên quyết ngăn chặn và loại trừ các hiện tượng gây nhũng nhiễu, phiền hà trong đội ngũ CBCC; Cập nhật các quy trình, văn bản nghiệp vụ mới để đáp ứng tốt hơn yêu cầu công tác; Tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn song song cùng công tác chống buôn lậu, gian lận thương mại trên địa bàn quản lý.

Phong Nhân (Cục Hải quan Thanh Hóa)

Hải quan TPHCM: Ứng dụng mạnh công nghệ 4.0 trong quản lý, điều hành

Ngày 16/7, tại hội nghị triển khai nhiệm vụ công tác 6 tháng cuối năm, Cục Hải quan TPHCM đã đưa ra nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó ứng dụng mạnh công nghệ 4.0 trong điều hành công việc để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị năm 2019.

hai quan tphcm ung dung manh cong nghe 40 trong quan ly dieu hanh
Các cá nhân nhận Bằng khen của Bộ Tài chính do lập thành tích xuất sắc đột xuất. Ảnh: T.H

Lần đầu tiên thu ngân sách 6 tháng vượt 50% chỉ tiêu

Một trong những kết quả đạt được khá nổi bật của Cục Hải quan TPHCM trong 6 tháng đầu năm 2019 là thực hiện tốt công tác tạo thuận lợi thương mại nhằm nuôi dưỡng nguồn ngu ngân sách.

Ngay từ đầu năm, Cục Hải quan TPHCM đã phối hợp với Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn thực hiện chuyên đề “Thủ tục hải quan trong Logistics và chống ùn tắc hàng hóa XNK tại cảng Cát Lái”.

Theo đó, Cục Hải quan TPHCM và Tổng công ty Tân cảng Sài Gòn đã tổ chức các buổi làm việc xây dựng, thống nhất quy trình xử lý, quy trình thủ tục và đưa ra các giải pháp hoàn thiện, cắt giảm thời gian, chi phí tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp (DN). Sau khi triển khai thí điểm, mới đây, Tổng cục Hải quan quyết định giao Cục Hải quan TPHCM tiếp tục xây dựng đề án phát triển hệ thống Logistics và chống ùn tắc tại cảng Cát Lái theo hướng mở rộng hơn nữa.

Với các giải pháp đồng bộ, số lượng DN tham gia hoạt động XNK hàng hóa tăng khá mạnh. Trong 6 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá đạt 58,16 tỷ USD, tăng 5,87% so với cùng kỳ 2018; số thu NSNN của Cục Hải quan TPHCM được 57.913 tỷ đồng, đạt 53,22% chỉ tiêu pháp lệnh, đạt 51,29% chỉ tiêu phấn đấu, tăng 16,8% so với cùng kỳ 2018 .

Đặc biệt, Cục Hải quan TPHCM quản lý rất tốt nợ thuế, số nợ thuế phát sinh chiếm tỷ lệ rất nhỏ; phát hiện và ngăn chặn kịp thời các vụ vi phạm pháp luật, vận chuyển trái phép chất ma túy. Trong số trên 730 vụ vi phạm, trị giá trên 1.000 tỷ đồng bị phát hiện trong 6 tháng đầu năm 2019, Cục Hải quan TPHCM đã phát hiện 29 vụ vận chuyển trái phép chất ma túy, thu giữ gần 550 kg ma túy các loại...

Theo Cục trưởng Đinh Ngọc Thắng, trong 6 tháng đầu năm 2019, với khối lượng công việc lớn, đơn vị đã hoàn thành và vượt chỉ tiêu nhiều mặt công tác. Đây là năm đầu tiên sau nhiều năm công tác thu ngân sách vượt qua ngưỡng 50% chỉ tiêu kế hoạch được giao. Với kết quả này, lãnh đạo TPHCM đã đánh giá cao kết quả cải cách, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK của Cục Hải quan TPHCM trong thời gian qua.

Triển khai hệ thống giao việc, nhắc việc thông minh

Triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm, Cục trưởng Đinh Ngọc Thắng nhận định, trước tình trạng nhiều mặt hàng nhập khẩu chính đang có chiều hướng giảm trong mấy tháng gần đây và những tháng cuối năm, nhất là mặt hàng ô tô, cùng với đó là việc cắt giảm các dòng thuế khi thực hiện các FTA... Đã đặt ra nhiều thách thức trong công tác thu ngân sách của Cục Hải quan TPHCM, đòi hỏi cần phải có giải pháp đồng bộ.

hai quan tphcm ung dung manh cong nghe 40 trong quan ly dieu hanh
Các tập thể nhận Giấy khén của Cục trưởng Cục Hải quan TPHCM. Ảnh: T.H

Tại hội nghị, với các bài tham luận chi tiết về từng lĩnh vực công tác, Cục Hải quan TPHCM đề ra nhiều giải pháp đồng bộ. Trong đó, tiếp tục thực hiện cải cách hành chính hiện đại hóa hải quan, tạo thuận lợi thương mại, tập trung triển khai hiệu quả 2 đề án: Đề án tạo thuận lợi thương mại tại cảng Cát Lái – cảng biển lớn nhất cả nước; Hoàn thiện quá trình chạy thử nghiệm và đưa vào hoạt động Hệ thống quản trị hải quan TPHCM

Cùng với đó, Cục Hải quan TPHCM tập trung xây dựng các kế hoạch hành động, triển khai các giải pháp trong toàn Cục phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN năm 2019, đảm bảo thu đúng, thu đủ và triển khai đầy đủ các giải pháp thu theo Chỉ thị số 723/CT-TCHQ về việc thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp tạo thuận lợi thương mại, chống thất thu trong triển khai nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước năm 2019... Quyết tâm thu đạt chỉ tiêu NSNN là 108.800 tỷ đồng và chỉ tiêu phấn đấu 112.900 tỷ đồng.

Cục trưởng Đinh Ngọc Thắng cũng đã thẳng thắn chỉ ra một số bất cập, khó khăn trong những tháng cuối năm để các đơn vị cần phải tập trung khắc phục, triển khai. Trong đó, Cục trưởng nhấn mạnh trong điều kiện khối lượng công việc lớn, biên chế còn thiếu, để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ngoài việc sắp xếp, bố trí CBCC theo năng lực, cần ứng dụng công nghệ 4.0 vào công việc. Cục Hải quan TPHCM đang triển khai hệ thống giao việc, nhắc việc thông minh nhằm kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện công việc được giao; xây dựng, phat triển hệ thống quản trị hải quan TPHCM.

Trước mắt, giảm bớt giấy tờ trong các cuộc họp, các cuộc lãnh đạo Cục phải triển khai không giấy tờ, thực hiện khai thác tài liệu, ghi chép trên hệ thống máy tính, thiết bị thông minh, xây dựng hệ thống giúp lãnh đạo kiểm soát được công việc của cấp dưới một cách toàn diện nhất.

Tại hội nghị, nhiều tập thể cá nhân Cục Hải quan TPHCM nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tài chính; Giấy khen của Cục trưởng Cục Hải quan TPHCM do lập thành tích xuất sắc trong công tác.

Xem thêm

Đưa Hải Phòng thành đầu mối logistics

Kim ngạch xuất khẩu Hà Nội: Chuyển hướng để vượt thách thức

Kiểm tra, giám sát chặt xuất xứ hàng hóa để chống gian lận thương mại

Chủ trì Hội nghị trực tuyến sơ kết công tác 6 tháng đầu năm, phương hướng, giải pháp thực hiện nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019 vừa qua, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan (TCHQ) Nguyễn Văn Cẩn cho biết ngành Hải quan sẽ xác định rõ ranh giới giữa tạo thuận lợi thương mại và chống buôn lậu, gian lận thương mại để tránh sự tùy tiện áp dụng ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) và quản lý hải quan.
Kiểm tra, giám sát chặt xuất xứ hàng hóa để chống gian lận thương mại
Hình ảnh tại Hội nghị

Thu ngân sách vượt dự toán

Tại Hội nghị, Cục trưởng Cục Thuế XNK Lưu Mạnh Tưởng cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2019, nhờ áp dụng hàng loạt những biện pháp chống thất thu hiệu quả mà ngành Hải quan đã thu được 1.854 tỷ đồng từ các công tác kiểm tra nghiệp vụ của cơ quan Hải quan. Trong đó, tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN) từ hoạt động xuất nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm 2019 đạt 175.522 tỷ đồng - bằng 58,4% dự toán; 55,6% chỉ tiêu phấn đấu và tăng 19,4%, tương đương tăng 28.602 tỷ đồng so với cùng kỳ 2018. Bên cạnh đó, nhờ thực hiện nhiều biện pháp, kết quả chống thất thu ngân sách qua các công tác nghiệp vụ của cơ quan Hải quan trong 6 tháng đầu năm 2019 đạt 1.854 tỷ đồng.

Cùng với việc ban hành một số công văn tăng cường kiểm tra trị giá hải quan, Cục Thuế XNK đã ban hành Danh mục hàng hóa XNK có rủi ro về giá kèm theo mức giá tham chiếu làm cơ sở để so sánh, đối chiếu, kiểm tra trị giá khai báo, xác định dấu hiệu nghi vấn ban đầu để thực hiện tham vấn trong quá trình làm thủ tục hải quan hoặc kiểm tra sau thông quan theo quy định nhằm kịp thời xử lý, ấn định thuế các trường hợp khai báo trị giá không đúng quy định... Công tác xác định trị giá đã giúp thu vào NSNN 169,87 tỷ đồng.

Hiệu quả của công tác kiểm tra sau thông quan cũng rất tích cực. Theo báo cáo, toàn ngành đã thực hiện 1.714 cuộc kiểm tra sau thông quan. Tổng số tiền ấn định và xử phạt vi phạm hành chính là 838 tỷ đồng, đã thực thu số tiền 927,86 tỷ đồng vào NSNN. Trong công tác thanh tra, kiểm tra, trong 6 tháng đầu năm 2019, toàn ngành đã tiến hành 153 cuộc thanh tra, kiểm tra yêu cầu truy thu và xử phạt, số tiền 148,82 tỷ đồng, trong đó số thuế truy thu 130,59 tỷ đồng, xử phạt vi phạm hành chính 18,23 tỷ đồng, đã đôn đốc thu nộp NSNN 78,68 tỷ đồng. Đặc biệt, trong công tác chống buôn lậu, toàn ngành Hải quan đã chủ trì, phối hợp, phát hiện, bắt giữ tổng 8.933 vụ việc vi phạm trong lĩnh vực hải quan; thu vào NSNN 157,28 tỷ đồng; đã ban hành 20 quyết định khởi tố, chuyển cơ quan khác kiến nghị khởi tố 51 vụ.

Đẩy mạnh chống gian lận thương mại

Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai đánh giá cao những kết quả toàn ngành Hải quan đạt được trong 6 tháng đầu năm. Định hướng công tác trong 6 tháng cuối năm của ngành, Thứ trưởng Vũ Thị Mai nhấn mạnh, TCHQ cần tập trung triển khai công tác xây dựng các đề án về cơ chế, chính sách đúng tiến độ, rà soát kỹ, xây dựng nội dung chất lượng. Đối với nhiệm vụ thu NSNN, Thứ trưởng Vũ Thị Mai đề nghị các đơn vị cần triển khai đồng bộ các giải pháp để giúp ngành Hải quan phấn đấu vượt 5% chỉ tiêu thu NSNN được giao.

Về công tác cải cách, hiện đại hóa, Thứ trưởng Vũ Thị Mai yêu cầu TCHQ tập trung triển khai mạnh mẽ việc tái thiết kế lại hệ thống công nghệ thông tin. Đây là nhu cầu hết sức cấp bách, cần phải được khẩn trương triển khai để nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý hải quan, giải quyết được những vướng mắc đang tồn tại trong thực tiễn của ngành hiện nay.

Đối với công tác chống buôn lậu và gian lận thương mại, Thứ trưởng Bộ Tài chính yêu cầu ngành Hải quan cần tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được và chủ động phối hợp lực lượng lập các chuyên án, có những giải pháp cụ thể để tăng cường phòng ngừa, đấu tranh, bắt giữ hàng cấm, hàng giả, giữ an ninh an toàn nền kinh tế quốc gia…

Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai tại Hội nghị, Tổng cục trưởng TCHQ Nguyễn Văn Cẩn cam kết ngành Hải quan sẽ phấn đấu vượt 5% chỉ tiêu thu NSNN được giao. Về công tác cải cách hiện đại hóa của ngành Hải quan, Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Cẩn yêu cầu các cục hải quan tỉnh, thành phố thực hiện quản lý đồng bộ, tất cả những hoạt động phát sinh liên quan đến hải quan đều phải được hiển thị trong hệ thống để việc giám sát rõ ràng, minh bạch. Đối với yêu cầu đang đặt ra với ngành Hải quan là tạo thuận lợi thương mại nhưng phải quản lý chặt để chống gian lận thương mại, Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Cẩn khẳng định, thời gian tới ngành Hải quan sẽ xác định rõ ranh giới giữa tạo thuận lợi thương mại và chống buôn lậu, gian lận thương mại để tránh sự tùy tiện áp dụng ảnh hưởng đến hoạt động XNK và quản lý hải quan.

Minh Ngọc

Gần 17.000 doanh nghiệp làm thủ tục tại Hải quan Hải Phòng

- 6 tháng đầu năm, có 16.719 doanh nghiệp làm thủ tục tại Cục Hải quan Hải Phòng.

gan 17000 doanh nghiep lam thu tuc tai hai quan hai phong
Hoạt động xuất nhập khẩu tại Hải Phòng có nhiều khởi sắc trong những tháng đầu năm với sự tham gia của gần 17.000 doanh nghiệp. Ảnh: T.Bình.

Trong đó có 2.092 doanh nghiệp tại địa bàn Hải Phòng, riêng doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại thành phố cảng là 382 doanh nghiệp.

Tổng số tờ khai của doanh nghiệp trên địa bàn Hải Phòng trong 6 qua là 285.529 tờ khai, trong đó có 165.495 tờ khai nhập khẩu và 120.034 tờ khai xuất khẩu, chiếm 54,5 % tổng số tờ khai của doanh nghiệp làm thủ tục tại Cục Hải quan Hải Phòng.

Riêng cộng đồng doanh nghiệp FDI tại Hải Phòng thực hiện 204.385 tờ khai (trong đó có 113.351 tờ khai nhập khẩu; 91.034 tờ khai xuất khẩu) chiếm 71,6 % tổng số tờ khai của của doanh nghiệp trên địa bàn Hải Phòng.

Kim ngạch của doanh nghiệp trên địa bàn Hải Phòng đạt 16,123 tỷ USD chiếm 54,9% kim ngạch của doanh nghiệp làm thủ tục tại Cục Hải quan Hải Phòng.

Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Hải Phòng đóng góp 12,421 tỷ USD, chiếm 77% kim ngạch của doanh nghiệp trên địa bàn Hải Phòng.

Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của các doanh nghiệp trên địa bàn Hải Phòng là máy móc thiết bị; sản phẩm điện tử và linh kiện điện tử như (tấm màn hình dùng cho ti vi, cảm biến hình ảnh, mạch điện tử tích hợp,...); vải các loại; nguyên phụ liệu may, da, giày; sắt thép các loại, xăng dầu, thịt đông lạnh, linh kiện xe máy, linh kiện ô tô...

Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của các doanh nghiệp trên địa bàn Hải Phòng là sản phẩm điện tử và linh kiện điện tử như (ti vi, điện thoại, máy giặt, bản mạch điện tử...), giầy dép các loại, túi xách, quần áo may mặc, máy in và các linh kiện máy in, lốp xe ôtô, hạt nhựa, hộp carton, đồ trang sức, rô bốt, sắt thép các loại, ván gỗ....

Thái Bình

Đưa Hải Phòng thành đầu mối logistics

Ảnh minh họa

Hội nghị "Phát triển dịch vụ logistics tại Hải Phòng - nâng cao năng lực cạnh tranh và đẩy mạnh liên kết vùng" sẽ diễn ra ngày 12/7 tại Tp.Hải Phòng. Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh và lãnh đạo UBND Hải Phòng đồng chủ trì hội nghị.

Quyết định số 200/TTg ngày 14/2/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025, xác định mục tiêu đến năm 2025, tỷ trọng đóng góp của ngành dịch vụ logistics vào GDP đạt 8%-10%, tốc độ tăng trưởng đạt 15%-20%, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 50%-60%, chi phí logistics giảm xuống tương đương 16%-20% GDP.

Bộ Công Thương với vai trò đầu mối chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và các tổ chức liên quan triển khai thực hiện.

Hải Phòng hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi

Hải Phòng là thành phố có lưu lượng hàng hoá xuất nhập khẩu lớn nhất phía Bắc, hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi để trở thành một trung tâm dịch vụ logistics quan trọng của quốc gia. Hải Phòng có nhiều bến cảng với hệ thống thiết bị hiện đại, cơ sở hạ tầng đầy đủ, an toàn, phù hợp với phương thức vận tải thương mại quốc tế. Cảng Lạch Huyện đang được xây dựng để trở thành cửa ngõ quốc tế.

Với kết cấu hạ tầng giao thông khá đầy đủ ở mọi hình thức vận tải, sân bay Cát Bi đang được nâng cấp để đáp ứng nhu cầu tăng cao của logistics hàng không. Hệ thống đường cao tốc, đường quốc lộ nối Hải Phòng với Hà Nội và các tỉnh, thành phố khá thuận tiện. Đường sắt kết nối với Hà Nội, Lạng Sơn, Lào Cai và vào các tỉnh phía Nam.

Hải Phòng cũng là nơi tập trung nhiều doanh nghiệp dịch vụ logistics và cơ sở đào tạo logistics của miền Bắc. Hải Phòng có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển "Hai hành lang một vành đai kinh tế Việt Nam - Trung Quốc".

Theo quy hoạch phát triển hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh đến năm 2020, Hải Phòng trở thành đầu mối giao thông quan trọng kết nối với các tỉnh phía Bắc Việt Nam và Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc); một cực tăng trưởng quan trọng của "Hai hành lang kinh tế", một trọng điểm phát triển kinh tế biển.

Theo kế hoạch của Bộ Giao thông Vận tải, cảng Hải Phòng sẽ được nâng cấp, hoàn thiện các trang thiết bị và xây dựng hai bên tại Đình Vũ để tàu 20.000 DWT có thể thuận tiện lưu thông, đưa năng lực thông quan lên tới 25-30 triệu tấn/năm. Hệ thống cảng biển khu vực Hải Phòng sẽ là nơi được hưởng lợi nhờ vị trí chiến lược gần các quốc gia Đông Bắc Á và cơ sở hạ tầng giao thông đang ngày càng hoàn thiện.

Chưa phát huy tiềm năng và lợi thể

Tuy nhiên, với vị trí thuận lợi và nhiều tiềm năng như vậy nhưng Hải Phòng vẫn chưa phát huy được hết lợi thế đã có, chưa thực sự trở thành địa phương đi đầu về phát triển dịch vụ logistics, cũng như chưa tận dụng lợi thế để góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam.

Hoạt động logistics của Hải Phòng chủ yếu tập trung tại công tác vận chuyển, đưa rút hàng khỏi cảng là một trong những khâu tạo ít giá trị gia tăng nhất trong chuỗi cung ứng dịch vụ logistics.

Dịch vụ vận tải đường bộ được cung cấp bởi hàng trăm doanh nghiệp phần lớn có quy mô vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố đã gây ra nhiều bất cập như: cạnh tranh không lành mạnh, khai thác không hiệu quả.

Chi phí vận tải còn cao do tổ chức vận tải chưa hợp lý (chủ yếu bằng đường bộ, xe đa phần chạy hàng một chiều), tổ chức giao nhận, các thủ tục hành chính còn rườm rà, chất lượng dịch vụ kho bãi thấp. Chưa giảm được thời gian gom hàng, trả hàng, làm thủ tục, khiến tăng thêm về chi phí.

Chính phủ đã ban hành các cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho ngành logistics Việt Nam phát triển. Đó là Nghị định số 30/CP về điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải biển, Nghị định số 89/CP, Quyết định số 200/TTg. Hải Phòng đã ban hành Quyết định số 549 phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống dịch vụ logistics Tp.Hải Phòng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Nghị quyết 45 của Bộ Chính trị cũng đặt ra mục tiêu cho Hải Phòng đến năm 2030 trở thành trung tâm dịch vụ logistics quốc tế hiện đại bằng cả đường biển, đường hàng không, đường bộ cao tốc...

Hội nghị giúp Hải Phòng đánh giá, nhận thức đúng vai trò của dịch vụ logistics trong phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, nhằm phát huy lợi thế vị trí chiến lược của Hải Phòng, nâng cao vai trò của dịch vụ logistics trong cơ cấu phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường kết nối, hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp và tạo ra sự lan toả trong khu vực.

Các hoạt động phát triển hệ thống logistics của Hải Phòng sẽ được trao đổi tại hội nghị, bàn thảo cơ chế phối hợp giữa các bộ quản lý chuyên ngành và địa phương để thực hiện kế hoạch hành động tại Quyết định 200/TTg.

Các đại biểu sẽ thảo luận các giải pháp thu hút đầu tư vào phát triển hạ tầng logistics và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo động lực nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kết nối để đưa Hải Phòng trở thành đầu mối logistics của khu vực.

Hội nghị sẽ dành nhiều thời gian đối thoại giữa Bộ Công Thương, UBND Tp.Hải Phòng với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics. Lắng nghe các góp ý, kiến nghị, đề xuất giải pháp của các doanh nghiệp để triển khai một cách hiệu quả...

Sự kiện được Bộ Công Thương phối hợp với Sở Công Thương UBND Tp.Hải Phòng, thu hút khoảng 300 đại biểu tham dự, bao gồm Văn phòng Chính phủ; Ban kinh tế TƯ; Văn phòng Quốc hội; đại diện các Bộ Giao thông Vận tải, Tài chính, Khoa học công nghệ, Thông tin - Truyền thông, Giáo dục và Đào tạo; các cơ quan quản lý tại địa phương, các hiệp hội ngành hàng, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics và xuất nhập khẩu...

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn dắt tăng trưởng kinh tế

Sáng ngày 4/7, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương để đánh giá tình hình chỉ đạo, điều hành kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2019. Trong những kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng trưởng cao, tiếp tục giữ vai trò chủ chốt, dẫn dắt tăng trưởng chung của toàn ngành và của nền kinh tế.

Phát biểu khai mạc phiên họp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm đã vượt qua khó khăn thách thức, đạt được những kết quả toàn diện. Thủ tướng ghi nhận nỗ lực của các cấp, các ngành, bí thư, chủ tịch 63 tỉnh thành đã luôn sâu sát, quan tâm giải quyết các vấn đề bức xúc, bảo đảm cuộc sống cho người dân ngày càng tốt hơn.

nganh cong nghiep che bien che tao dan dat tang truong kinh te
Theo báo cáo, trong 6 tháng đầu năm, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng trưởng cao, tiếp tục giữ vai trò chủ chốt, dẫn dắt tăng trưởng chung của toàn ngành và của nền kinh tế. Ảnh Chinhphu.vn

Định hướng nội dung thảo luận trong cuộc họp, Thủ tướng yêu cầu lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương đi thẳng vào những tồn tại, yếu kém, khó khăn, thách thức mà đất nước, từng bộ ngành, từng địa phương phải đổi mới để cùng bàn, đưa ra đối sách, giải pháp, xử lý nhanh, kiên quyết không để vướng mắc kéo dài, ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.

Lưu ý các bộ, ngành, địa phương về tinh thần, thái độ làm việc, Thủ tướng thẳng thắn chỉ ra rằng, vẫn còn một bộ phận nhũng nhiễu, tiêu cực, bê trễ trong công việc. Đo đó, người đứng đầu Chính phủ yêu cầu các cấp, các ngành cần chấn chỉnh ngay tình trạng này, không để đến khi vi phạm phải xử lý dẫn đến mất cán bộ.

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư do Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng trình bày cho biết, trong bối cảnh 70% các nền kinh tế trên thế giới, trong đó hầu hết các nền kinh tế phát triển đều rơi vào tình trạng tăng trưởng chậm lại, song tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm của nước ta ước đạt 6,76%, mặc dù thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng 6 tháng đầu năm 2018, song cao hơn mức tăng của 6 tháng các năm từ 2011-2017 và dự báo nếu không có những yếu tố bất thường thì dự báo năm 2019 có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng đề ra là 6,8%.

nganh cong nghiep che bien che tao dan dat tang truong kinh te
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Chúng ta cần có thái độ nhìn nhận nghiêm túc để thấy được trách nhiệm, đặc biệt là tìm được giải pháp khắc phục trong 6 tháng cuối năm. Ảnh Chinhphu.vn

Đáng chú ý, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong 6 tháng đầu năm, khu vực công nghiệp, xây dựng đạt tốc độ tăng trưởng tích cực, ước đạt 8,93%, cao hơn dự kiến trong kịch bản tăng trưởng đã đề ra là 8,68%, trong đó, riêng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng trưởng cao, tới 11,18%, tiếp tục giữ vai trò chủ chốt, dẫn dắt tăng trưởng chung của toàn ngành và của nền kinh tế.

Trong khi đó, 6 tháng đầu năm nay, ngành nông nghiệp gặp khó khăn do dịch tả lợn châu Phi lây lan trên diện rộng nên tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 1,3%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 3,07% của 6 tháng năm 2018, đóng góp 0,17 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Tuy nhiên, do nhu cầu thị trường tiêu thụ tăng cao nên ngành thủy sản có mức tăng trưởng khá, đạt 6,45%, đây là mức tăng trưởng cao nhất trong 6 tháng đầu năm trong 9 năm trở lại đây. Bên cạnh đó, xuất khẩu rau, củ, quả lần đầu tiên đạt mức hàng tỷ USD phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, bù đắp thiệt hại do dịch tả lợn châu Phi gây ra.

Về chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2019, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, đã giảm 0,09% so với tháng trước và CPI bình quân 6 tháng đầu năm nay tăng 2,64% so với bình quân cùng kỳ năm 2018. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, lượng khách quốc tế đến nước ta đều tăng trưởng khá...

Trong 6 tháng đầu năm, giải ngân vốn FDI ước đạt 9,1 tỷ USD, tăng gần 8% so với cùng kỳ.

Đặc biệt, theo số liệu cập nhật từ Tổng cục Hải quan, đến hết tháng 6/2019, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt 122,4 tỷ USD, nhập khẩu 120,8 tỷ USD, xuất siêu 1,6 tỷ USD.

Trong 6 tháng đầu năm 2019, cả nước có gần 67.000 doanh nghiệp được thành lập mới, tăng 3,8% về số doanh nghiệp và tăng 32,5% về số vốn đăng ký. Có 21.617 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 31,4% so với cùng kỳ năm 2018.

Trong công tác hội nhập quốc tế tiếp tục ghi nhận những kết quả rất tích cực, trong đó nổi bật là việc Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã chính thức ký kết Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA), mở ra cơ hội lớn thúc đẩy tăng trưởng đầu tư, giao thương giữa doanh nghiệp Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp EU trong thời gian tới.

Cùng đó, các lĩnh vực văn hoá, xã hội, y tế, giáo dục, công tác an sinh xã hội, tạo việc làm… tiếp tục được quan tâm đầu tư.

Hoàng Châu

Thị trường Hoa Kỳ: Điểm đến của gỗ Việt

Hoa Kỳ vẫn là thị trường quan trọng nhất của ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam. Tăng cường hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là giải pháp quan trọng nhằm nâng tầm ngành này trong thời gian tới.

6 tháng đầu năm 2019, giá trị xuất khẩu lâm sản ước đạt gần 5,3 tỷ USD, tăng gần 20% so với cùng kỳ năm 2018, đạt 50% kế hoạch năm. Trong đó, 87% giá trị kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ Việt Nam là các thị trường truyền thống có yêu cầu cao như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu…

thi truong hoa ky diem den cua go viet
Sản phẩm gỗ Việt Nam có chất lượng cao, được thị trường Hoa Kỳ ưa chuộng

Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, Hoa Kỳ hiện là thị trường nhập khẩu số 1 về gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam, chiếm 45% tổng giá trị xuất khẩu của ngành với tốc độ tăng trưởng trung bình từ 15-17%/năm. Riêng 5 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ sang Hoa Kỳ đã đạt 1,839 tỷ USD, tăng 34,98% so với cùng kỳ năm 2018 và chiếm tới 46% tổng giá trị xuất khẩu toàn ngành.

Không chỉ là thị trường nhập khẩu chủ lực, ở chiều ngược lại, Hoa Kỳ còn là nhà cung cấp gỗ nguyên liệu số 1 cho Việt Nam. 5 Tháng đầu năm, nhập khẩu gỗ đạt 138,490 triệu USD, ứng với lượng cung trên 420,62 nghìn m3 gỗ quy tròn, tăng 24,9% về giá trị và 19% về lượng so với cùng kỳ 2018.

Chia sẻ tại hội nghị về xuất khẩu gỗ mới đây, ông Nguyễn Tôn Quyền - Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam - nhận định, Hoa Kỳ là quốc gia có diện tích rừng lớn bậc nhất trên thế giới và có sản lượng khai thác không dưới 300 triệu m3 gỗ/năm. Gỗ nguyên liệu của Hoa Kỳ luôn đảm bảo có truy xuất nguồn gốc rõ ràng, hợp pháp, chất lượng tốt và giá cả cạnh tranh. Gỗ Hoa Kỳ luôn là lựa chọn hàng đầu đối với các nhà nhập khẩu Việt Nam, nhất là trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu sản phẩm gỗ ngày càng khắt khe với nguồn gốc gỗ nguyên liệu.

Thứ trưởng thường trực Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn cho biết, mục tiêu Chính phủ đặt ra cho ngành gỗ và lâm sản là xuất khẩu đạt 11 tỷ USD trong năm 2019. Để thực hiện mục tiêu này, Chính phủ cam kết đồng hành, tạo điều kiện cho các DN và trong sự phát triển này rất cần sự phối hợp của Hoa Kỳ, đặc biệt là các DN nước bạn trong cung ứng nguồn nguyên liệu. “Ngành công nghiệp gỗ Việt Nam sẽ hướng tới minh bạch, áp dụng quy trình sản xuất tốt để bảo đảm sự phát triển bền vững” - Thứ trưởng Hà Công Tuấn nhấn mạnh.

Luật Lâm nghiệp của Việt Nam và Hiệp định Đối tác tự nguyện về thực thi lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản giữa Việt Nam và châu Âu đã có hiệu lực trong năm 2019 để đảm bảo tính hợp pháp và bền vững của các sản phẩm gỗ. Ông Robert Hanson - Tham tán nông nghiệp, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội - cho biết, Việt Nam là điểm đến số 1 đối với xuất khẩu gỗ cứng của Hoa Kỳ ở khu vực Đông Nam Á. Xuất khẩu gỗ cứng của Hoa Kỳ sang Việt Nam năm 2018 đã tăng 17,5% so với năm 2017.

Gỗ cứng Hoa Kỳ đã và đang khẳng định tầm quan trọng đối với ngành công nghiệp chế biến, xuất khẩu gỗ và lâm sản Việt Nam. Hiện gỗ cứng của Hoa Kỳ xuất khẩu vào Việt Nam chiếm khoảng 1/8 nhu cầu, tiềm năng còn rộng mở.

Nguyễn Hạnh

Kim ngạch xuất nhập khẩu qua Lào Cai giảm

heo ông Lê Phương, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Lào Cai, xuất nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2019 qua địa bàn gặp khó khăn dẫn tới tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giảm so với cùng kỳ.

Hàng hóa sau thông quan qua cửa khẩu Kim Thành, Lào Cai. Ảnh: Hương Thu/TTXVN

Cụ thể, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm đạt trên 919 triệu USD, giảm 6,77% so với năm 2018 (986 triệu USD). Theo đó, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 558 triệu USD, giảm 2,26% so với năm 2018; kim ngạch nhập khẩu đạt 361,3 triệu USD, giảm 12,97% so với năm 2018.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt thấp là do trong 6 tháng đầu năm 2019, phía Trung Quốc đã tăng cường chính sách quản lý đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu như: chính sách quản lý mặt hàng, tăng thuế xuất, nhập đối với hàng hóa xuất nhập khẩu; quản lý chặt chẽ các cửa khẩu phụ, lối mở, cấm không cho hàng hóa vận chuyển qua lối mở…

Đặc biệt, phía Trung Quốc cũng đã triển khai thí điểm thiết bị mới để soi chiếu hàng hóa, kiểm soát chặt chẽ hơn về nguồn gốc xuất xứ, chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm dịch kiểm nghiệm và truy suất nguồn gốc bao bì, nhãn mác, giấy chứng nhận đối với nông sản, thực phẩm.

Chính sách về thu thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu chính ngạch, sắp xếp lại xe biên mậu (trừ hàng xoài và thanh long các hàng hóa còn lại phải thực hiện dỡ xuống xe biên mậu)… cũng đã làm ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu qua địa bàn.

Để hỗ trợ cho các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu, từ đầu năm 2019 đến nay, Hải quan tỉnh Lào Cai tiếp tục triển khai có hiệu quả thủ tục Hải quan điện tử và cơ chế Hải quan một cửa VNACCS/VCIS. Điều này góp phần đẩy nhanh tiến độ cải cách thủ tục hành chính về hải quan, đảm bảo đúng chính sách pháp luật, tạo thông thoáng và điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Hải quan tỉnh Lào Cai cũng đẩy mạnh các biện pháp thu nộp ngân sách, tăng cường các biện pháp chống thất thu thuế. Áp dụng các chức năng mới trên Hệ thống e- Customs V5 để hỗ trợ thực hiện thủ tục hải quan điện tử trên hệ thống VNACCS. Thực hiện tốt tuyên ngôn phục vụ khách hàng "Chuyên nghiệp- Minh bạch – Hiệu quả".

Tại địa điểm làm thủ tục Hải quan ở khẩu Quốc tế đường bộ số II Kim Thành, Hải quan tỉnh Lào Cai đã niêm yết các thủ tục hải quan công khai, phối hợp chặt với các cơ quan kiểm tra chuyên ngành để thông quan hàng hóa nhanh nhất cho doanh nghiệp./.

Tiến độ kiểm tra thông tin Asanzo nhập hàng Trung Quốc dán nhãn Việt đến đâu?

Liên quan đến việc kiểm tra thông tin dư luận phản ánh Công ty Asanzo nhập hàng Trung Quốc về dãn nhãn Made in Việt Nam, Bộ Công Thương cho biết đang tích cực và làm việc hết sức trách nhiệm, phối hợp với Bộ Tài chính để thực hiện đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Tiến độ kiểm tra thông tin Asanzo nhập hàng Trung Quốc dán nhãn Việt đến đâu?
Việt Nam ký kết nhiều hiệp định thương mại nhưng lại chưa có quy định cụ thể tiêu chí made in Vietnam (ảnh minh họa)

Trao đổi với báo chí về thông tin Công ty Asanzo có hành vi thay đổi, bóc nhãn mác “Made in China” và gắn mác “Made in Vietnam” rồi bán sản phẩm ra thị trường, ông Đỗ Thắng Hải, Thứ trưởng Bộ Công Thương cho biết, Công ty Asanzo nhập khẩu cụm linh kiện tại Trung Quốc có xuất xứ Trung Quốc, lắp lại thành sản phẩm và gắn nhãn mác, xuất xứ Việt Nam.

Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tài chính làm đầu mối phối hợp các bộ, ngành, trong đó có Bộ Công Thương kiểm tra xử lý và báo cáo Chính phủ. "Hiện Bộ Công Thương đang tích cực và làm việc hết sức trách nhiệm, phối hợp với Bộ Tài chính để thực hiện đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ" - Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải khẳng định.

Cung cấp thêm thông tin về việc này, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục xuất nhập khẩu cho biết, hiện chưa có quy định cụ thể nào về việc thế nào là hàng hóa sản phẩm của Việt Nam, thế nào là hàng hóa sản phẩm sản xuất tại Việt Nam.

Tại Việt Nam, việc ghi xuất xứ trên nhãn hàng hóa được thực hiện theo Nghị định 43 ban hành năm 2017 của Chính phủ. Nghị định này quy định bắt buộc mọi hàng hoá lưu hành tại Việt Nam đều phải dán nhãn.

Trên nhãn đó có một số thông tin bắt buộc như tên nhà sản xuất, tên tổ chức cá nhân chịu trách nhiệm lưu thông hàng hóa và xuất xứ hàng hoá...

Tuy nhiên, khi Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thương mại (FTA) khác nhau. Các hiệp định này có các quy định về hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan nhưng lại chưa có quy định áp dụng với nhãn hàng tại thị trường nội địa.

Hiện chúng ta vẫn chưa có 1 quy định rõ ràng về việc xác định tỷ lệ hàng hóa như thế nào thì được coi là hàng hóa xuất xứ Việt Nam hoặc hàng hóa của Việt Nam.

Vì vậy, Bộ Công Thương đang soạn thảo một văn bản quy định về việc thế nào hàng hoá sản phẩm của Việt Nam và hàng hóa sản phẩm sản xuất tại Việt Nam để áp dụng cho hàng hóa lưu thông trong nước.

“Văn bản này dự kiến ở cấp Thông tư, do Bộ Công Thương ban hành. Khi có dự thảo chính thức, Bộ Công Thương sẽ công bố trên website để xin ý kiến rộng rãi các hiệp hội, doanh nghiệp người tiêu dùng để được sát thực với thực tế và ngăn chặn được tình trạng gian lận thương mại như vừa qua” - ông Trần Thanh Hải cho biết.

Bình Yên

Phản ứng bất ngờ của CEO Phạm Văn Tam khi Nguyễn Kim, Điện Máy Xanh nhận đổi trả hàng Asanzo

Ông Phạm Văn Tam - CEO của Asanzo - vừa có thông báo gửi nhà phân phối và khách hàng, phản đối việc nhiều nhà bán lẻ trong nước như Điện máy Xanh, Nguyễn Kim có chính sách thu hồi và đổi trả sản phẩm của Asanzo.

Thông tin nói trên được phản ánh trên Zing.vn. Theo đó, trước động thái thu hồi và đổi trả các sản phẩm mang thương hiệu Asanzo của nhiều nhà bán lẻ trong nước, ông Phạm Văn Tam đã có thông báo gửi các nhà phân phối và khách hàng.

Cụ thể, Công ty cổ phần Điện tử Asanzo Việt Nam phản đối chính sách đổi trả hàng hóa mang thương hiệu Asanzo từ người tiêu dùng hoặc các kênh phân phối tại các địa điểm kinh doanh, trung tâm thương mại.

"Chúng tôi không có chủ trương thu hồi mọi sản phẩm mang thương hiệu Asanzo và không đồng ý, cũng như chấp nhận các chính sách này của khách hàng và đối tác, vì tất cả hàng hóa mang thương hiệu Asanzo đã và đang được đưa ra thị trường bởi chúng tôi”, CEO của Asanzo khẳng định.

Tiêu dùng & Dư luận - Phản ứng bất ngờ của CEO Phạm Văn Tam khi Nguyễn Kim, Điện Máy Xanh nhận đổi trả hàng Asanzo

Asanzo khẳng định hàng hoá được phân phối trên thị trường mang thương hiệu công ty và không chấp nhận đổi trả.

Asanzo cũng cho biết sẽ không chịu bất kỳ trách nhiệm nào liên quan đến thiệt hại trong quá trình các đối tác tự ý thực hiện chính sách thu hồi và đổi trả sản phẩm mang thương hiệu của công ty này.

Trước đó, báo Tuổi Trẻ cho hay hàng điện tử gia dụng của Tập đoàn Asanzo được chứng nhận là “Hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn” (HVNCLC). Asanzo quảng bá sử dụng “đỉnh cao công nghệ Nhật Bản”. Tuy nhiên, điều tra của Tuổi Trẻ cho thấy Asanzo là hàng Trung Quốc "đội lốt" xuất xứ Việt Nam.

Trước nghi vấn này, ông Phạm Văn Tam - Chủ tịch Tập đoàn Điện tử Asanzo cho biết, 70% linh kiện tivi của Asanzo được nhập từ Trung Quốc, 30% còn lại được nhập tại các công ty ở Việt Nam và việc này không có gì là mới.

Ngày 22/6, bà Vũ Kim Hạnh, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao (HVNCLC) cho biết, sau khi tiếp nhận thông tin trên báo chí về việc Tập đoàn Asanzo sử dụng hàng Trung Quốc “đội lốt” hàng Việt thì đơn vị này đã tiến hành “tước” danh hiệu HVNCLC của Tập đoàn Asanzo.

Đồng thời, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã có chỉ đạo yêu cầu các Cục, Vụ, Viện có liên quan như: Cục Xuất nhập khẩu, Cục Công nghiệp, Vụ Khoa học Công nghệ, Vụ Thị trường trong nước, Tổng cục Quản lý thị trường… tiến hành kiểm tra rà soát công tác quản lý Nhà nước và chức trách nhiệm vụ được giao trong vụ việc này. Từ đó có những biện pháp cụ thể đảm bảo quyền và lợi ích của người tiêu dùng, đồng thời đảm bảo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh...

Liên quan đến lùm xùm nói trên, một số nhà bán lẻ trong nước đã có động thái ngừng bán các sản phẩm của Asanzo. Các nhà bán lẻ lớn như Điện máy Xanh, Nguyễn Kim thậm chí còn có chính sách hỗ trợ đổi sản phẩm tivi Asanzo.

Vụ việc trên cũng làm lộ ra một lỗ hổng pháp lý về quy định hàng hoá xuất xứ tại Việt Nam.

Thông tin trên báo Pháp luật TPHCM, ông Trần Thanh Hải - Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu Bộ Công Thương cho biết, hiện Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) với quy định cụ thể phục vụ cho hàng hoá hưởng ưu đãi thuế quan nhưng lại chưa có quy định áp dụng với nhãn hàng tại thị trường nội địa Việt Nam, chưa có quy định rõ ràng xác định xuất xứ hàng hoá như thế nào được gọi là “sản xuất tại Việt Nam”, “hàng hoá của Việt Nam”...

“Bộ Công Thương đang xây dựng dự thảo văn bản hướng dẫn hàng hoá sản phẩm sản xuất tại Việt Nam và hàng hoá của Việt Nam. Khi nào có dự thảo chính thức, Bộ sẽ công bố để lấy ý kiến người dân”, ông Hải nói.

Tiêu dùng & Dư luận - Phản ứng bất ngờ của CEO Phạm Văn Tam khi Nguyễn Kim, Điện Máy Xanh nhận đổi trả hàng Asanzo (Hình 2).

Hoàng Yến (tổng hợp)

Thu thuế khởi sắc nhờ hoạt động xuất nhập khẩu giữ đà tăng

Theo ông Lưu Mạnh Tưởng, Cục trưởng Cục Thuế xuất nhập khẩu (Tổng cục Hải quan), mặc dù Việt Nam chịu tác động giảm thuế suất sâu rộng từ việc thực hiện các hiệp định thương mại tự do, nhưng nguồn thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu 6 tháng đầu năm vẫn tăng gần 20% so với cùng kỳ năm ngoái.

Chú thích ảnh

Cán bộ Chi cục Hải quan Ninh Bình tiếp nhận tờ khai nộp thuế điện tử của doanh nghiệp. Ảnh: Minh Đức/TTXVN.

Số thu tăng là do hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) của Việt Nam vẫn giữ đà tăng trưởng. Trong 6 tháng đầu năm nay, tổng trị giá XNK hàng hóa Việt Nam đạt 243,20 tỷ USD, tăng 7,94%, trong đó xuất khẩu đạt 122,42 tỷ USD, tăng 7,1% và nhập khẩu đạt 120,78 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Đặc biệt, kim ngạch XNK có thuế 6 tháng đầu năm đạt 56,56 tỷ USD, tăng 11,62% so với cùng kỳ.

Trong 6 tháng qua, số thu ngân sách tăng cao so với cùng kỳ chủ yếu là do tăng thu mạnh từ một số nhóm hàng chính như: Dầu thô, ô tô. Số thu từ hai mặt hàng này đạt 26.470 tỷ đồng, tăng 21.036 tỷ đồng (tương đương tăng 387%) so với cùng kỳ năm trước.

“6 tháng đầu năm nay, ngành Hải quan đã thu 175.522 tỷ đồng, đạt hơn 58% dự toán, hơn 55% chỉ tiêu phấn đấu, tăng 19,4% (tăng 28.602 tỷ đồng) so với cùng kỳ năm ngoái”, ông Lưu Mạnh Tưởng nói.

Để đảm bảo thu đạt chỉ tiêu dự toán 300.500 tỷ đồng và chỉ tiêu phấn đấu được giao năm 2019 là 315.500 tỷ đồng, trong tháng tới, toàn ngành Hải quan tiếp tục tập trung thực hiện Chỉ thị 723/CT-TCHQ của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan về các giải pháp quyết liệt trong công tác thu ngân sách, tập trung thực hiện nhiệm vụ chống thất thu và thu hồi, xử lý nợ thuế; giám sát chặt chẽ các tờ khai XNK, không để nợ mới phát sinh.

Để tạo điều kiện thông quan nhanh hàng hóa, ngành Hải quan tiếp tục đẩy mạnh hợp tác với ngân hàng để thực hiện nộp thuế điện tử 24/7. Trong tháng 9/2019, Tổng cục Hải quan sẽ triển khai chương trình nộp thuế điện tử doanh nghiệp nhờ thu. Việc triển khai kênh thanh toán thuế điện tử nhờ thu nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thường xuyên làm thủ tục XNK có số lượng tờ khai lớn, nộp nhiều tiền thuế và có đủ năng lực tài chính.

Minh Phương/Báo Tin tức

CO form E - và những vấn đề liên quan

CO form E là một trong những chứng từ quan trọng khi nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc.

Mặc dù không phải tất cả các mặt hàng nhập nước này đều có hoặc cần CO mẫu E, nhưng bạn sẽ thấy chứng từ đó rất thông dụng. Công ty tôi làm dịch vụ hải quan thì thấy có đến trên ⅔ các lô hàng xuất xứ Trung Quốc đều có Form E.

Nói như vậy để thấy sự phổ biến, và vai trò của Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu E này. Và vì phổ biến, và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi ưu đãi thuế của nhà nhập khẩu, nên hiểu rõ nội dung liên quan để tránh sai sót là rất cần thiết cho nhà nhập khẩu.

Tôi viết bài này cũng để chia sẻ kinh nghiệm liên quan, với hy vọng giúp bạn được thông tin quan trọng khi làm thủ tục nhập khẩu.

Với những bạn mới làm quen, tôi nêu lại khái niệm một chút...

CO form E là gì?

CO form E là Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu E, phát hành theo Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), xác nhận hàng hóa có nguồn gốc xuất xứ từ nước thành viên của hiệp định này.

Hàng nhập khẩu về Việt Nam mà dùng CO mẫu E thường là có nguồn gốc Trung Quốc.

Mục đích của mẫu CO form E hợp lệ là để xác nhận xuất xứ của hàng hóa, từ đó mà xem lô hàng có được hưởng mức thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt hay không (thường được giảm thuế). Cụ thể mức thuế nhập khẩu sẽ theo từng loại hàng cụ thể, căn cứ vào mã HS Code.

Hình dưới là ảnh mẫu CO form E hợp lệ, bạn có thể nhấp chuột phải để download.

mẫu CO form E hợp lệMẫu CO form E hợp lệ

Tương tự như vậy với hàng xuất khẩu, CO mẫu này xác nhận hàng có xuất xứ từ Việt Nam hoặc ASEAN, nhờ đó người nhập khẩu Trung Quốc cũng được hưởng ưu đãi tương ứng tại nước họ.

Quy định về CO form E

Hiện quy định về CO form E được có trong nhiều văn bản pháp luật. Ở đây, tôi tổng hợp một số văn bản quan trọng và phổ biến, mà chúng tôi hay sử dụng trong quá trình làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu cho khách hàng:

  • Thông tư 36/2010/TT-BCT ngày 15/11/2010 của Bộ trưởng Bộ Công Thương (sau đây gọi tắt là Thông tư 36)
  • Thông tư 35/2012/TT-BCT và 14/2016/TT-BCT bổ sung tên Tổ chức được Bộ công thương ủy quyền cấp C/O theo danh sách ban hành trong Thông tư 36
  • Thông tư 21/2014/TT-BCT sửa đổi bổ sung Quy tắc cụ thể mặt hàng ban hành trong Thông tư 36
  • Công văn 12149/BCT-XNK ngày 14/12/2012 của Bộ Công Thương về hóa đơn bên thứ ba trong ACFTA
  • Quyết định số 12/2007/QĐ-BTM - Quy chế cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa Mẫu E (có trước thông tư 36)
  • Thông tư 06/2011 TT-BCT về thủ tục cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa ưu đãi
  • Quyết định 4286/QĐ-TCHQ ngày 31 tháng 12 năm 2015 về Quy trình kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (chung cho tất cả các mẫu CO, gồm cả Form E)

Tiếp theo là một số công văn giải đáp các vướng mắc liên quan đến C/O mẫu E, có kèm nội dung chính tôi tóm tắt ngay sau đó để bạn tiện tra cứu tham khảo:

  • 680/TCHQ-GSQL ngày 18 tháng 02 năm 2011: người nhập khẩu chỉ cần nộp bản gốc (Original), không cần nộp bản sao thứ 3 (Triplicate)
  • 2706/TCHQ-GSQL ngày 07 tháng 06 năm 2011 về: tick ô 13 bằng tay hay đánh máy, hóa đơn bên thứ 3 cấp bởi 1 công ty Trung Quốc (không phải nhà XK), CO cấp trước ngày xuất khẩu
  • 4264/TCHQ-GSQL ngày 14 tháng 08 năm 2012: khi 1 trang CO không đủ chỗ để khai hết số lượng các mặt hàng
  • 487/XNK-XXHH ngày 21 tháng 10 năm 2013: người ủy quyền của người xuất khẩu đứng tên trên ô số 1 của C/O mẫu E do Trung Quốc cấp
  • 5467/TCHQ-GSQL ngày 16 tháng 09 năm 2013: ô số 1 trên C/O mẫu E thể hiện người ủy quyền mà không phải là tên người xuất khẩu và không thuộc trường hợp có hóa đơn do bên thứ ba, C/O mẫu E đó không hợp lệ
  • 887/TCHQ-GSQL ngày 08 tháng 02 năm 2013: mục 4 về Giấy xác nhận chuyển tải khi hàng quá cảnh qua 1 nước không phải là thành viên (nhắc lại trong CV 1710/GSQL-GQ4ngày 02/12/2016; và mục 2.2.3.đ Quyết định số 4286/QĐ-TCHQ ngày 31/12/2015).
  • 978/GSQL-TH ngày 21 tháng 7 năm 2014: Ghi giá CIF trên ô số 9
  • 6549/BCT-XNK ngày 01 tháng 07 năm 2015: hóa đơn bên thứ ba, thời hạn xác minh CO
  • 1335/GSQL-TH ngày 06 tháng 10 năm 2016: khác biệt giữa tên người xuất khẩu trên ô số 1 của C/O với tên người gửi hàng trên vận đơn trong trường hợp hóa đơn bên thứ 3
  • 508/GSQL-GQ4 ngày 13 tháng 03 năm 2017; 1478/GSQL-TH ngày 20 tháng 11 năm 2015 (hóa đơn thương mại do bên thứ ba thuộc ACFTA phát hành)

Ngoài việc nắm được các quy định trên đây, khi thao tác với những lô hàng có Form E, hẳn là sẽ có lúc bạn thắc mắc về nội dung nào đó có ý nghĩa như thế nào.

Dưới đây là từng nội dung cụ thể trong 13 ô trên Form E. Tôi sẽ điểm qua lại nội dung chính, và lưu ý những điểm quan trọng mà người làm thực tế hay gặp phải.

Nội dung CO form E

Bạn có thể xem chi tiết trong Phụ lục 4 Thông tư 36.

Trước hết ở góc phải phía trên Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu này phải có những thông tin tham chiếu quan trọng:

  • Số CO (Reference Number), ví dụ: E17GDDGWJ1690126
  • Cụm từ tiếng Anh trong đó có dòng “FORM E”
  • Tên nước phát hành, ví dụ: THE PEOPLE’S REPLUBLIC OF CHINA

Tiếp đó là 13 ô nội dung...

Ô số 1: Thông tin nhà xuất khẩu: tên công ty, địa chỉ. Thường là người bán hàng trên Invoice, trừ trường hợp hóa đơn bên thứ 3 (thì trên ô này là tên công ty sản xuất).

Ô số 2: Thông tin người nhận hàng (nhà nhập khẩu)

Ô số 3: Tên phương tiện vận tải và tuyến đường. Có 4 nội dung chính

  • Ngày khởi hành: là ngày tàu chạy trên vận đơn
  • Tên tàu + số chuyến, hoặc tên tàu bay (thực ra trong quy định không đề cập đến số chuyến, nhưng thực tế thì các CO đều thấy có kèm theo số chuyến sau tên tàu)
  • Tên cảng dỡ hàng
  • Tuyến đường và phương thức vận chuyển, chẳng hạn: From China Port, China to Saigon Port, Vietnam by Ship

Ô số 4: dành cho cơ quan cấp CO, doanh nghiệp không cần quan tâm nhiều đến ô này

Ô số 5 & 6: không quan trọng lắm

Ô số 7: Số lượng, chủng loại bao gói, mô tả hàng hóa (gồm cả lượng hàng và mã HS nước nhập khẩu).

Lưu ý:

  • Trong ô này là Mã HS nước nhập khẩu, chứ không phải nước xuất khẩu. Cụ thể, nếu hàng nhập từ Trung Quốc về Việt Nam, thì trên ô số 7 phải ghi mã HS của Việt Nam mới là chính xác. Nhiều công ty để mã HS của Trung Quốc (10 chữ số), nhưng nếu khớp đến 6 chữ số đầu (cấp phân nhóm), thì tôi thấy hải quan cũng thường bỏ qua. Nhưng nếu khác hoàn toàn, thì hải quan sẽ có cơ sở để nghi ngờ về xuất xứ.
  • Trường hợp CO form E có hóa đơn của bên thứ 3, thì phía dưới của ô này phải ghi tên của bên phát hành hóa đơn và tên quốc gia.

Ô số 8: Tiêu chí xuất xứ.

Tiêu chí xuất xứ form E khá quan trọng, vì có thể ảnh hưởng đến tính hợp lệ của chứng từ này. Nó cho biết tỉ lệ bao nhiêu phần trăm giá trị hàng hóa được sản xuất tại nước cấp CO.

Một số trường hợp hay gặp:

  • “WO” = Wholy Owned: xuất xứ thuần túy, nghĩa là 100%
  • Số % cụ thể, chẳng hạn 90%, nghĩa là 90% hàng hóa được sản xuất tại Trung Quốc

Lưu ý: giá trị hàm lượng xuất xứ dưới 40% thì coi như không có xuất xứ.

Ô số 9: Trọng lượng toàn bộ (hoặc lượng khác) và giá trị FOB. Ô này ý nghĩa tương đối rõ ràng. Chỉ lưu ý giá trị trong ô này là FOB, do đó nếu trên hóa đơn ghi giá trị theo điều kiện khác, chẳng hạn ExWork, CIF… thì không được lấy ngay vào ô số 9 này, mà phải điều chỉnh cộng trừ chi phí để xác định đúng giá trị FOB rồi mới ghi vào ô này. Tôi đã thấy nhiều CO vẫn giữ nguyên giá CIF hoặc ExW đưa vào ô này, và bị trục trặc khi làm thủ tục nhập khẩu.

Ô số 10: Số và ngày Invoice, chính là số liệu lấy từ Invoice, lưu ý kiểm tra kỹ lưỡng, tránh sai sót, nhầm lẫn.

Ô số 11: tên nước xuất khẩu (vd: CHINA), nhập khẩu (VIETNAM), địa điểm và ngày xin CO, cùng với dấu của công ty xin CO.

Mặc dù nội dung trong ô này ít khi bị sai, nhưng cũng không phải là không thể. Chính tôi đã gặp trường hợp 1 lô hàng nhập mà ô 11 để sai tên nước nhập khẩu là INDONESIA thay vì VIETNAM. Có lẽ do đã copy/paste sai trong khâu chứng từ chăng?!

Ô số 12: Xác nhận Chữ ký của người được ủy quyền, dấu của tổ chức cấp CO, địa điểm và ngày cấp. Với hàng từ Trung Quốc, chữ ký tiếng Hoa có nét tượng hình, không dịch ra phiên âm được. Cán bộ hải quan sẽ đối chiếu với chữ ký trong cơ sở dữ liệu của họ.

Lưu ý: trên dấu của Trung Quốc lại có chữ FORM A thay vì FORM E. Nhưng điều này là hợp lệ, vì đã có quy định … chấp nhận.

Ô số 13: Một số lựa chọn, tick vào ô tương ứng nếu thuộc trường hợp đó

  • Issued Retroactively: Trường hợp CO được cấp sau quá 3 ngày tính từ ngày tàu chạy
  • Exhibition: Trường hợp hàng tham gia triển lãm, và được bán sau khi triển lãm.
  • Movement Certificate: Trường hợp hàng được cấp C/O giáp lưng
  • Third Party Invoicing: Trường hợp hóa đơn phát hành tại Bên thứ ba (chi tiết trong phần tiếp)

CO form E có hóa đơn bên thứ 3

Đây là trường hợp mà CO có hóa đơn được phát hành bởi bên thứ 3, còn gọi là CO form E third party invoicing.

Để đáp ứng được trường hợp này, trên CO phải có 4 điều kiện:

  1. Ô số 1: thể hiện nhà sản xuất tại quốc gia tham gia ACFTA (vd: China)
  2. Ô số 7: có tên công ty phát hành hóa đơn, và tên nước mà công ty này đặt trụ sở
  3. Ô số 10: số và ngày hóa đơn phải ghi rõ tại ô số 10 (khớp với Invoice mua bán)
  4. Ô số 13: tick vào mục Third Party Invoicing

Ví dụ: Công ty Vinaexim của Việt Nam nhập khẩu lô hàng từ Samex của Hàn Quốc, nhưng CO do nhà sản xuất Sinoman của Trung Quốc xin cấp. Như vậy, CO này được xem là hợp lệ nếu:

  1. Ô số 1: thể hiện tên nhà sản xuất Sinoman
  2. Ô số 7: tên công ty Samex và tên nước South Korea
  3. Ô số 10: số ngày hóa đơn thương mại do Samex phát hành cho Vinaexim
  4. Ô số 13: phải tích vào “Third Party Invoicing”.

Lý thuyết cũng khá đơn giản, cứ đủ tiêu chí là được xem là trường hợp C/O mẫu E có hóa đơn bên thứ 3 hợp lệ.

Cơ bản là như thế, nhưng trên thực tế có khá nhiều trường hợp phát sinh, chẳng hạn:

  • C/O form E phát hành bởi bên thứ 3 cùng nước với nhà xuất khẩu thì có hơp lệ không? =≫ Có, theo công văn nêu trên
  • Thiếu dấu tick vào mục "Third Party Invoicing" thì có sao không? =≫ Không hợp lệ, trường hợp này thường được gọi là “CO ủy quyền” do nhà máy ở Trung Quốc không có chức năng xuất khẩu mà phải ủy quyền cho 1 đơn vị dịch vụ làm CO.
  • CO trực tiếp, nhưng có tên nhà sản xuất ở ô số 7, thì có hợp lệ không? =≫ Không hợp lệ
  • CO ủy quyền có hợp lệ không? Nếu tên người ủy quyền xin CO đứng ở ô số 1 => Không hợp lệ
  • Ngày khởi hành trên CO (Departure date) khác với trên vận đơn, thì có hợp lệ không? =≫ Dễ bị nghi ngờ xuất xứ
  • Có được cấp C/O form E trước ngày tàu chạy không? =≫ Có thể

Một số sai sót hay gặp với CO mẫu E

  • Không đủ điều kiện để thuộc trường hợp hóa đơn phát hành tại bên thứ ba
  • Thiếu dấu tick “Issued Restroactively” khi ngày cấp CO quá 3 ngày sau khi tàu chạy
  • CO form E ủy quyền: do một số nhà sản xuất ở Trung Quốc không có chức năng xin CO, mà phải ủy quyền cho công ty dịch vụ đứng tên xin CO và làm thủ tục xuất khẩu. Theo quy định của Trung Quốc, người được ủy quyền phải đứng tên trên C/O form E (chứ không phải là nhà xuất khẩu thực sự). Nhưng về Việt Nam thì trường hợp này CO sẽ xem như bị bất hợp lệ (công văn 5467/TCHQ-GSQL nêu trên)
  • Số liệu trên CO không khớp với chứng từ khác, chẳng hạn như Số/ngày Invoice, giá trị hàng hóa, ngày tàu chạy… Những lỗi này cần được kiểm tra đối chiếu cẩn thận để chỉnh sửa sớm, tránh những hệ lụy về sau.

Trên đây là một vài sai sót nghiêm trọng, dễ bị hải quan bác bỏ hoặc chuyển đi xác minh CO. Còn những lỗi khác nữa, tôi sẽ bổ sung dần. Bạn nên lưu ý khi kiểm tra chứng từ.

Ngoài những lỗi nặng, vẫn có những sai sót nhỏ, không ảnh hưởng đến xuất xứ nên hải quan có thể bỏ qua. Quy định cụ thể trong Điều 26 - Thông tư 38/2015/TT-BTC.

Thủ tục xin cấp CO mẫu E cho hàng XK

Với hàng xuất khẩu, thì bạn sẽ quan tâm đến thủ tục xin cấp ℅ như thế nào, tại đâu, hồ sơ ra sao. Tôi sẽ tóm tắt những mục chính dưới đây. Nếu bạn cần hướng dẫn chi tiết hơn, thì vào đường link tôi đặt cạnh nội dung tương ứng nhé.

Địa điểm cấp CO form E:

Kết hợp online và offline:

  • Online: trên hệ thống ecosys.gov.vn
  • Offline: tại sở công thương (vd: Sở Công thương Hải Phòng: Số 9 Lạch Tray)

Các bước xin cấp:

  1. Đăng ký tài khoản mới cho DN (chỉ làm lần đầu), Đăng ký tại đây
  2. Truy cập hệ thống, khai báo hồ sơ, theo hướng dẫn này
  3. Tải lên file đính kèm: tờ khai hải quan, vận đơn, bảng kê hàm lượng, C.Inv
  4. Ký điện tử & Gửi hồ sơ online
  5. Hồ sơ được duyệt, kết xuất & in đơn xin C/O đã cấp số & nộp cùng bộ hồ sơ
  6. Duyệt hồ sơ giấy & cấp CO gốc (Original), bản bằng giấy

Hồ sơ xin C/O mẫu E:

  1. Đơn xin cấp CO (in từ hệ thống)
  2. Invoice, Packing List, B/L
  3. Tờ khai hq XK…
  4. Bảng giải trình Quy trình sản xuất (nếu lần đầu xin C/O)

Tham khảo thêm về cách thức, địa điểm, hồ sơ xin cấp CO form E tại đây.